Sunday, December 28, 2014

Lời tự thuật Đường về cực lạc


(PGVN)

“Đường về Cực Lạc” là con đường pháp dẫn ta và tất cả chúng sanh từ xứ ác trược ta bà về đến thế giới thanh tịnh Cực Lạc. Củng chính là “Pháp môn Tịnh độ” nói bằng một cách khác đấy thôi…

Thời gian qua tôi từng tự nghĩ:

Ta cùng thập phương chư Phật đồng một bản chơn giác tánh, Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật há chẳng từng dạy rằng: “Tất cả chúng sanh đầu đầy đủ Như Lai Trí huệ đức tướng” đó ư!

Từ khi sơ thỉ có thân, không phải là ta sau chư Phật. tại sao chư Phật, các Ngài đã giải thoát tự tại, đủ vô lượng trí huệ công đức thần thông, mà ta vẫn bị buộc ràng trong vòng sanh tử, đầy vô biên phiền não tội nghiệp khốn khổ ? Phải chăng là do vì chư Phật sớm chứng ngộ bản chơn, còn ta mải mê say trần dục! Thật là đáng hổ thẹn! Thật là đáng thống trách!

Tôi lại tự nghĩ:

Đã tự biết rồi, giờ đây ta phải kíp lo sao cho được giải thoát và phải giải thoát nơi đời hiện tại này. Nếu trong đời hiện đại này, mà chưa được giải thoát, đời sau quyết khó bảo đảm, và có thể vẫn loanh quanh mãi trong vòng luân hồi như những đời quá khứ thôi! Vì sao vậy? Có nhiều điều rất chướng ngại con đường giải thoát của ta ở đời sau:

1. Do phước lực tu hành hiện đời mà ta sẽ sanh lên các cõi trời ư? Trong Kinh có lời: Chư Thiên cõi Dục, vì cảnh ngũ dục quá thắng diệu dồi dào làm cho say mê, lại không có sự thống khổ làm cho thức tỉnh, nên khó phát tâm chịu nhọc chịu khổ mà tu hành đạo hạnh. Hưởng phước vui mãi mà không tu, tất có ngày hết phước mà phải sa đọa. Còn chư Thiên trong cõi Sắc và Vô Sắc lại vì mãi an trụ trong cảnh giới thiền định, khó tấn tu đạo giải thoát, lúc sức thiên định đã mãn, vẫn uy nghiêm làm kẻ luân hồi.
 
Vĩnh Gia Thiền sư có nói: Người tu phước sanh lên các cõi trời sẽ chiêu vời quá khổ ở tương lai, như bắn mũi tên lên hư không, khi sức đã mãn tên lại rơi xuống đất.
Đó là sanh lên cõi trời thời không bảo đảm giải thoát.

2. Ta sẽ được thân làm người nữa ư ? Đui, điếc, câm, ngọng trên mặt địa cầu rất lắm kẻ; Mán, Mọi, dã man cùng ngiều người; biết bao xứ không Phật, Pháp, Tăng; nơi nơi đầy ngoại đạo tà giáo. Được thân người mà có một trong các điều  trên đây rất khó mong tu hành chánh đạo, tất sẽ lạc vào tà ngoại. Ngoài ra, nếu ta có phước mà sẽ làm vua, làm quan, làm nhà triệu phú: “Sang giàu học đạo làm khó” Lời Phật rành rành trong Kinh Tứ Thập Nhị Chương. Hoặc giả đời trước có tu thiền quán à được thông minh: “Thể trí biện thông” là một trong bát mạn. Đó là chưa kể đến  không biết bao nhiêu người  lợi dụng sự sang giàu tài trí để gây tạo những tội ác tày trời, mà ta thường nghe thường thấy trong đời…

3. Phật nói: “Chúng sanh được thân người như đất dính móng tay, còn sa váo ác đạo như đất toàn cõi đại địa”. Sau khi ta bỏ thân này, ta dám cả quyết là không đi xuống ư? Kinh nói: “Phạm một tội nhỏ (kiết-la) phải đọa địa ngục bằng tuổi thọ của Tứ Thiên Vương”. Huống là nghiệp chướng từ vô lượng đời đến nay khó  có thể lường.E rằng “Cường giả tiên khiên”, một bước trật chân chắc chắn là lăn xuống đến đáy hố sâu. Đây là điều lo sợ cho đời sau mãi mãi trầm luân.

Rồi tôi tự gẫm:

Y cứ nơi Thánh giáo: Dứt sạch tam giới kiến tư hoặc mới siêu thoát luân hồi. Nếu phiền não còn mảy may, cội gốc sanh tử còn chưa đoạn. Đây là thông luận của Đại thừa và Tiểu thừa.

Riêng phần Đại thừa, được bảo đảm trên con đường siêu thoát thành Phật, tất phải vào bậc tín tâm bất thối làm đầu. Chứng bậc này, theo kinh Tín Luận, phải là người đủ năng lực thiện căn huân tập, thâm tín nhơn quả, chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành, phát Bồ đề tâm, đặng gặp chư Phật gần gũi cúng dường, tu Bồ tát hạnh. Tu tập như vậy mãi đến đủ một vạn đại kiếp tín tâm mới thành tựu.

Nhưng tôi tự an ủi:

Đức Phật Như Lai  có dạy một phương tiện siêu thắng để bảo đảm sự giải thoát mà cũng để bảo đảm vững bước đường thành Phật cho tất cả chúng sanh:

Pháp môn Tịnh độ, niệm Phật cầu sanh Cực Lạc thế giới!
Theo lời Phật, dầu là hạng cực ác mà chịu hồi tâm tu theo pháp môn này trong một thời gian rất ngắn (10 niệm) củng được vãng sanh; đã được vãng sanh thời siêu phàm nhập thánh, thoát hẳn sanh tử, bất thối Vô thượng Bồ đề.

Nương pháp môn này, ắt là ta sẽ được toại bổn nguyện: giải thoát, thành Phật, độ sanh. Người cực ác tu được thành tựu thay, huống hồ là chưa phải là kẻ ác!

Từ ngày ấy tôi lập chí kiên quyết  nơi Tịnh độ và cố gắng thực hành.Tôi giao phó Pháp thân huệ mạng mình cho Đức Từ Phụ A-Di Đà Phật coi cõi cực lạc là gia hương của mình, bớt lần sự duyên để tu tâm niệm Phật…

Vì thế nên tôi không quản vụng về quê dốt gom góp những chỗ những nơi chỉ dạy về “Pháp môn Tịnh Độ”của Phật, Bồ-tát và Cổ đức, trong các Kinh các Luận chính thức, cùng diễn thuật các sự tích của Tăng, tục tứ chúng vãng sanh ở  những bộ sách chánh truyền,mà tổ họp thành bộ “Đường về Cực Lạc” này.

“Đường về Cực Lạc” là con đường pháp dẫn ta và tất cả chúng sanh từ xứ ác trược ta bà về đến thế giới thanh tịnh Cực Lạc. Củng chính là “Pháp môn Tịnh độ” nói bằng một cách khác đấy thôi…

Về phần lược sử của các nhà tu Tịnh độ được vãng sanh, tôi chọn lấy những chuyện tích  có ghi rõ công hạnh tấn tu, hay lời chỉ dạy xác đáng, để có thể làm quy giám cho những người phát tâm tu hành, cùng giúp thêm hạnh giải cho người đọc.

Đọc kỹ toàn bộ sách này, ngoài sự lợi ích lớn là được hiểu rõ Tịnh độ và pháp môn Tịnh độ; được phát khởi Tín, Hạnh, Nguyện; nếu ta chưa phát, tăng trưởng Tín, Hạnh, Nguyện, nếu ta đã phát thành tựu Tín, Hạnh, Nguyện, nếu đã tăng trưởng và viên mãn; nếu đã thành tựu ta lại có thề dùng đây là ông bạn tốt chỉ chỗ phải răn điều quấy  trong khi ta hành đạo, vì những căn trí, tâm tánh , những trường hợp cảnh duyên, những sự thuận trơn hay những điều thắc mắc của mỗi người trong chúng ta, không nhiều thì ít, quyết định là có trúng vào các truyện tích trong bộ này.

Tôi chí thành cầu nguyện bộ sách này sẽ đem kết quả tối thắng lại cho tất cả mọi người, cho tất cả chúng sanh đúng như tên của nó: “Vãng sanh Cực Lạc, trụ bậc bất thối Vô thượng Bồ Đề”.

PL.2497 - DL.1953, ngày Phật đản
Hân Tịnh Samôn
Thích Trí Tịnh

Tuesday, September 2, 2014

ALBERT EINSTEIN VÀ ĐẠO PHẬT

Gần đây có nhiều độc giả thắc mắc về mối liên hệ giữa nhà khoa học thiên tài Albert Einstein (1879-1955) và Đạo Phật như thế nào? Vì họ thấy đây đó có nhiều trích dẫn lời phát biểu của ông về Đạo Phật. Bài viết sau đây sẽ đề cập đến mối liên hệ ấy.
Dù chưa đầy đủ, nhưng hy vọng rằng nó sẽ là mấu chốt để chúng ta phăng tìm những tư liệu chi tiết về sau:
Ông Albert Einstein, sinh ngày 14 tháng 03 năm 1879 tại thành phố Ulm, Đức quốc, trong một gia đình làm nghề thủ công và tiểu thương. Bố là một người giỏi về hóa học và mẹ là người có khiếu về âm nhạc. Năm 1894, gia đình ông di cư sang sống tại Ý. Ông được bố gởi đi học ở Thụy Sĩ và đã tốt nghiệp tiến sĩ triết học tại Đại học Zurich. Sau khi ra trường, ông được mời dạy toán và vật lý tại một trường bách khoa ở Thụy Sĩ, ngoài việc dạy học, ông dành hết thời gian còn lại để nghiên cứu vật lý học và ông còn làm việc tại văn phòng thẩm tra cấp bằng sáng chế ở Berne, Thụy Sĩ. Năm 1905, ông gởi đăng bài "Lý thuyết tương đối hẹp" dài 5 trang trên tờ Physics. Bài báo nhanh chóng được chú ý và nó là tiếng nổ lớn của ngành khoa học về không gian và thời gian, ông đã phá vỡ các khái niệm tuyệt đối về không gian và thời gian của nhà vật lý học và toán học vĩ đại, Issaac Newton (1642-1727). Lập tức tên tuổi của ông được nhiều người biết tới và được xem là một khoa học gia nổi tiếng nhất vào thời điểm ấy.
Năm 1911, Ông là giáo sư vật lý ở Prague. Năm 1913, ông được mời làm giám đốc Học Viện Vật Lý Hoàng Đế Wilhelm tại Berlin. Đến năm 1921, ông được trao giải thưởng Nobel về Vật lý học qua đề án nghiên cứu "Lý Thuyết Tương đối" (The Theory of Relativity). Trong thế chiến thứ nhất (1914-1918), ông từng bị tống giam vì tội "chống chiến tranh và ủng hộ hòa bình". Sau khi Adolf Hitler (1889-1945) trở thành quốc trưởng của Đức, ông ra sức chống lại chủ nghĩa phát xít và rời bỏ nước Đức sang sống tại Hoa Kỳ.
Từ năm 1933 đến năm 1945, ông là giáo sư toán và lý tại Viện Cao học Princeton ở bang New Jersey. Phát xuất từ lòng căm thù chủ nghĩa phát xít mà ông đã giúp cho Tổng thống Mỹ Franklin Roosevelt (1882-1945) chế tạo bom nguyên tử và cuối cùng bị xem là "cha đẻ" của thứ vũ khí giết người này. Đây cũng là lý do mà về sau năm 1950, ông thành lập Viện Kiểm Soát Nguyên tử Quốc tế tại Hoa Kỳ.
Ba thập niên cuối đời mình, ông dành thời gian để nghiên cứu về "Lý thuyết thống nhất giữa lực hấp dẫn và hiện tượng điện quang" (The Theory of unify gravitation and eletro-magnetism).
Mặc dù bận rộn nghiên cứu và giảng dạy khoa học, nhưng ông Einstein vẫn dành thời gian nhất định để nghiên cứu triết học và tôn giáo, đặc biệt trong đó có Đạo Phật. Theo tài liệu "The World As I See It" (Trần thế khi tôi nhìn thấy nó, nhà xuất bản Philosophical Library, New York, 1949) và quyển "Ideas and Opinions" (Những Ý Kiến và Những Quan Điểm, nhà xuất bản Crown, NY, 1945) là hai tuyển tập những bài báo, bài tham luận về tôn giáo và khoa học mà ông Einstein viết từ đầu những năm ba mươi. Đáng chú ý trong tập này là các bài như "Religion and Science" (Tôn giáo và Khoa học), viết từ 1930; bài "Science, Philosophy & Religion, A Sumposium" (Khoa học, Triết học và Tôn giáo, một buổi hội thảo) viết năm 1941; bài "Religion and Science: Irreconcilable?" (Tôn giáo và Khoa học: không thể hòa giải được sao?) viết vào năm 1948.
Theo các tài liệu trên thì chính A. Einstein tự xem mình là một người thuộc về tôn giáo. Tôn giáo của ông được người ta biết qua lý thuyết khoa học của ông. Ông bác bỏ sự thần thánh hóa trong tôn giáo, ông quan tâm đến đời sống con người ở hiện tại và ngay cả sau khi chết. Trong các buổi hội thảo về triết học và tôn giáo, có lúc ông trích dẫn lời của Chúa, rồi có khi ông dẫn lời trong kinh Phật. Quan điểm của ông về tôn giáo chưa bao giờ có hệ thống và nhất quán. Tuy nhiên, với trí tuệ sắc bén và lòng ngưỡng mộ của ông đối với các tôn giáo đã giúp cho ông hiểu đúng và chính xác về các tôn giáo mà ông để tâm nghiên cứu. Ông vẫn thường nhắc nhở các nhà khoa học nên học hỏi ở các tôn giáo để bổ sung cho những khiếm khuyết của khoa học. Ông nói: "Khoa học mà thiếu tôn giáo là khập khiễng. Tôn giáo mà không có khoa học thì mù quáng" (Science without religion is lame. Reigion without science is blind).
Cũng theo các tài liệu trên cho thấy, ông đã nghiên cứu Đạo Phật qua các sách báo của các học giả Phật học của người Âu Mỹ viết, đáng kể là triết gia người Đức Schopenhauer Arthur (1788-1860), tiến sĩ người Đức Paul Carus (1852-1919), viện sĩ hàn lâm người Nga Vasily Vasaliyey (1818-1900)... là những nhà Phật học nổi danh ở phương Tây. Nhờ nghiên cứu như vậy mà A. Einstein đã nhìn thấy Đạo Phật như là một triết lý phương Đông cực kỳ sống động và triết lý ấy đã đi vào cuộc đời bằng chân lý thực chứng của mình, ngỏ hầu cắt ngang sự chậm tiến, lạc hậu, mê tín, cuồng tín và kém văn minh của thời đại. Đạo Phật đã đem lại cho con người một cái nhìn mới, một lối sống mới, một sự hài hòa mới, sống với nhau như ánh sáng trong không gian, chan hòa với nhau như nước với sữa. Chính vì thấy rõ cái độc đáo đó mà ông Einstein đã phát biểu về Đạo Phật như sau : "Tôn giáo của tương lai sẽ là một tôn giáo toàn cầu, vượt lên trên mọi thần linh, giáo điều và thần học. Tôn giáo ấy phải bao quát cả phương diện tự nhiên lẫn siêu nhiên, đặt trên căn bản của ý thức đạo lý, phát xuất từ kinh nghiệm tổng thể gồm mọi lĩnh vực trên trong cái nhất thể đầy đủ ý nghĩa. Phật giáo sẽ đáp ứng được các điều kiện đó" (The religion of the future will be a cosmic religion. It would transcend a person God and avoid dogmas and theology. Covering both the natural and the spiritual, it should be based on a religious sence, arising from the experience of all things, natural and spiritual, as a meaningful unity. Buddhism answers this description). Đồng thời, một lần khác ông cũng khẳng định rằng: "Nếu có một tôn giáo nào đương đầu với các nhu cầu của khoa học hiện đại thì đó là Phật giáo. Phật giáo không cần xét lại quan điểm của mình để cập nhật hóa với những khám phá mới của khoa học. Phật giáo không cần phải từ bỏ quan điểm của mình để xu hướng theo khoa học, vì Phật giáo bao hàm cả khoa học cũng như vượt qua khoa học" (If there is any religion that would cope with modern scientific needs, it would be Buddhism. Buddhism requires no revision to keep it up to date with recent scientific finding. Buddhism need no surrender its view to science, becauseit embrances science as well as goes beyond science). (Cả hai câu trên được trích từ Collected famous quotes from Albert Einstein. http://rescomp,stanford,edu/~ cheshire/ Einstein quotes.htm).
Dù những lý thuyết khoa học của ông rất phức tạp và khó hiểu, nhưng tấm lòng nhân đạo và mến chuộng hòa bình của ông đã khiến cho mọi người cảm thấy gần gũi với ông. Ông đã cống hiến tất cả trí tuệ và sức lực của mình đối với sự phát triển khoa học của nhân loại. Ông làm việc không biết mệt mỏi cho đến ngày qua đời. Ông mất vào lúc 1giờ 25 phút rạng sáng ngày 19 tháng 04 năm 1955 tại Princeton, Hoa Kỳ, hưởng thọ 76 tuổi. Ngày nay, đối với mọi tín đồ Phật Giáo trên khắp năm châu đều thành kính khi nhắc đến tên tuổi của ông, người đã từng góp phần khẳng định lại giá trị vĩnh cửu đối với Giáo lý của Đạo Phật.
Lê Văn Phước
Nguồn: http://btgcp.gov.vn/Plus.aspx/vi/News/38/0/256/0/3049/Albert_Einstein_va_dao_Phat

NHỮNG NGƯỜI NỔI TIẾNG CA NGỢI ĐẠO PHẬT KỂ CẢ TỔNG THỐNG HOA KỲ

Tuệ Uyển chuyển ngữ ngày 22/4/2012
  
Philip Kotler (1931- )
"Sự tiếp cận của tôi được ảnh hưởng bởi Thiền. Thiền nhấn mạnh việc học hỏi bằng những phương tiện của tĩnh lự và tuệ quán trực tiếp, trực giác. Những tư tưởng trong quyển sách này là kết quả của những sự hành thiền của tôi trên những nhận thức và nguyên tắc nền tảng của thị trường.

(Tuệ Quán Thị Trường từ A đến Z)
 
“My approach is influenced by Zen. Zen emphasizes learning by means of meditation and direct, intuitive insights. The thoughts in this book are a result of my meditations on these fundamental marketing concepts and principles.”
(Marketing Insights from A to Z)
  
Ronald Wilson Reagan (1911-2004)"Một điều mà Đạo Phật dạy chúng ta là mỗi thời khắc là một cơ hội để thay đổi."“One thing that Buddhism teaches you is that every moment is an opportunity to change. ”
  
Stephan R Covey (1932- )
Về thói quen thứ sáu (kết luận của quyển sách này) "Đạo Phật gọi đây là "con đường trung đạo". Trung Đạo trong ý nghĩa này không có nghĩa là sự thỏa hiệp; nó có ý nghĩa cao hơn, nó là chóp đỉnh của hình tam giác."(Bảy Thói Quen Ảnh Hưởng Con Người Cao Độ)

About 6th habit (it is conclusion of this book) “Buddhism calls this “the middle way.” Middle in this sense does not mean compromise; it means higher, like the apex of the triangle.”
(Seven Habits of Highly Effective Pepole)
  
Uma Thurman (1970-)"Đạo Phật có một ảnh hưởng quan trọng trên vấn đề tôi là ai và tôi nghĩ về thế giới như thế nào."“Buddhism has had a major effect on who I am and how I think about the world.”
  
CÁC NHÀ KHOA HỌC CA NGỢI ĐẠO PHẬT
Scientists praise Buddhism

Albert Einstein (1879-1955)"Nếu có một tôn giáo có thể đối diện với những nhu cầu của khoa học hiện đại đấy sẽ là Đạo Phật."“If there is any religion that could cope with modern scientific needs it would be Buddhism.”
  
Niels. Bohr (1885-1962) "Đối với một sự song song cho lý thuyết nguyên tử ... [chúng ta phải hướng đến những vấn đề nhận thức luận mà những tư tưởng gia như Đức Phật và Lão Tử đã đối diện rồi khi cố gắng để hòa hiệp các vị thế của chúng ta như những khán giả và diễn viên trong màn kịch vĩ đại của sự tồn tại.]
(Vật Lý Nguyên Tử và Tri Thức Con Người)“For a parallel to the lesson of atomic theory . . . [we must turn to those kinds of epistemological problems with which already thinkers like the Buddha and Lao Tzu have been confronted, when trying to harmonize our position as spectators and actors in the great drama of existence.”
(Atomic Physics and Human Knowledge)
  
Werner Heisenberg (1901-1976)"Sự đóng gióp khoa học vĩ đại trong lý thuyết vật lý đã đến từ Nhật Bản từ cuộc chiến cuối cùng có thể là một sự biểu hiện cho một mối quan hệ nào đó giữa những ý tưởng triết lý trong truyền thống Viễn Đông và triết học Schrödinger[1] ."
(Vật Lý và Triết Lý)
“The great scientific contribution in theoretical physics that has come from Japan since the last war may be an indication of a certain relationship between philosophical ideas in the tradition of the Far East and the philosophical Schrodinger.
(Physics and Philosophy)
[1]Erwin Rudolf Josef Alexander Schrödinger (12 August 1887 – 4 January 1961): một người Áo, một nhà vật lý học và toán sinh học, một trong những cha đẻ của Cơ Học Lượng Tử.
  
Julius Robert Oppenheimer (1904-1967)"Khái niệm tổng quát về sự thấu hiểu của con người ... là điều được soi sáng bởi những sự khám phá trong vật lý nguyên tử không phải trong bản chất của mọi vật hoàn toàn xa lạ, hoàn toàn chưa nghe đến, hay mới mẻ. Ngay cả trong nền văn hóa của chính chúng ta chúng có một lịch sử, và trong tư tưởng Phật Giáo và Ấn Giáo là một vị trí quan trọng và trung tâm. Những gì chúng ta thấy là một sự minh họa, một sự khuyến khích, và một tinh túy của tuệ trí cũ kỷ." (Khoa Học và Tri Thức Thông Thường)
“The general notions about human understanding… which are illustrated by discoveries in atomic physics are not in the nature of things wholly unfamiliar, wholly unheard of, or new. Even in our own culture they have a history, and in Buddhist and Hindu thought a more considerable and central place. What we shall find is an exemplification, an encouragement, and a refinement of old wisdom.’”
(Science and the Common Understanding)
  
CÁC NHÀ TÂM LÝ HỌC CA NGỢI ĐẠO PHẬT
Psychologists praise Buddhism

Henry_David_Thoreau(July 12, 1817 – May 6, 1862)"Một dấu chân đơn lẻ sẽ không làm nên lối mòn trên mặt đất, thế nên một tư tưởng đơn lẻ sẽ không làm nên một dấu vết trong tâm. Để làm nên một lối mòn vật lý sâu sắc, chúng ta phải đi tới đi lui hết lần này đến lần khác. Để làm nên một dấu vết tinh thần sâu sắc, chúng ta phải suy đi nghĩ lại nhiều lần về loại tư tưởng mà chúng ta mong ước chiếm ưu thế trong đời sống chúng ta".
"As a single footstep will not make a path on the earth, so a single thought will not make a pathway in the mind. To make a deep physical path, we walk again and again. To make a deep mental path, we must think over and over the kind of thoughts we wish to dominate our lives."
  
Albert Einstein (14 March 1879 – 18 April 1955)"Con người là một bộ phận của một tổng thể, được chúng ta gọi là Vũ trụ, một phần tử giới hạn trong thời gian và không gian. Con người tự kinh nghiệm, cảm giác và tư tưởng của con người, như điều gì đấy riêng biệt với tất cả,một loại vọng tưởng của tâm thức. Vọng tưởng này là một loại ngục tù cho chúng ta, giới hạn chúng ta với những tham dục cá nhân và ảnh hưởng những người gần gũi nhất. Nhiệm vụ của chúng ta là phải giải thoát chúng ta khỏi ngục tù này bằng việc mở rộng chu vi từ bi để bao gồm tất cả mọi tạo vật và tổng thể tự nhiên trong sự xinh đẹp của nó".

"A human being is part of w whole, called by us the Universe, a part limited in time and space. He experiences hiimself, his thoughts and feelings, as something separated from the rest, a kind of optical delusion of his consciousness. This delusion is a kind of prison for us, restricting us to our personal desires and to affecion for a few persons nearest us. Our task must b e to free ourselves from this prison by wedening our cricles of compassion to embrace all living creatures and the whole of nature in its beauty."
Albert Einstein, 1921
  
Paul Ekman (1934-)"Các khái niệm và thực hành của Đạo Phật đối diện với đời sống cảm xúc làm nên ba cống hiến rất khác biệt đến tâm lý học. Một cách lý thuyết, chúng phát khởi những vấn đề đã bị nhiều nhà tâm lý học quên lãng, đánh thức lãnh vực làm cho những sắc thái khác biệt tế nhị hơn trong suy tư về trải nghiệm cảm xúc. Một cách phương pháp, Đạo Phật cung ứng những sự thực hành có thể giúp
con người tường trình những kinh nghiệm nội tại của chính họ, và những sự thực tập như vậy do thế có thể cung ứng những thông tin quan yếu chi tiết hơn và toàn diện hơn những thứ được thu thập bởi kỷ thuật tâm lý bây giờ sử dụng để nghiên cứu những trải nghiệm cảm xúc khách quan. Cuối cùng những sự thực hành của Đạo Phật tự chúng cung cấp một loại tâm lý trị liệu, không chỉ vì những người bị quấy rầy, nhưng cho tất cả những ai tìm kiếm sự cải thiện phẩm chất cho đời sống của họ. Chúng ta hy vọng những gì chúng tôi đã nêu lên sẽ phục vụ để khởi động sự hấp dẫn của các nhà tâm lý học để nghiên cứu hơn nữa về truyền thống này."(Nhận Thức của Đạo Phật và Tâm Lý Học về Những Cảm Xúc và Cát Tường)
“Buddhist conceptions and practices that deal with emotional life make three very distinct contributions to psychology. Conceptually, they raise issues that have been ignored by many psychologists, calling on the field to make more finely nuanced distinctions in thinking about emotional experience. Methodologically, they offer practices that could help individuals report on their own internal experiences, and such practices might thereby provide crucial data that is much more detailed and comprehensive than that gathered by the techniques psychologists now use to study subjective emotional experience. Finally, Buddhist practices themselves offer a therapy, not just for the disturbed, but for all who seek to improve the quality of their lives. We hope what we have reported will serve to spark the interest of psychologists to learn more about this tradition.”
(Buddhist and Psychological Perspectives on Emotions and Well-Being)
  
Joshua. R. O’neilÔng là chủ tịch của Học Đường Tâm Lý Học Chuyên Nghiệp California và là thành viên của Hội đồng quản trị Mạng liên Xã hội và lãnh đạo California. Ông tư vấn cho các tập đoàn lớn và giám đốc điều hành về quy hoạch, lãnh đạo, và tổ chức sức khỏe.

"Có lẻ quan trọng hơn là sự kiện rằng "những người thật sự"chế nhạo thiền tập đã thấy rằng những nhà cạnh tranh cứng rắn Nhật Bản sử dụng nó thường xuyên. Vì thế ngày càng nhiều nghiệp vụ chính thống đã bắt đầu nghiên cứu Đạo Phật và những giáo lý Đông phương khác và để thực hành thiền, cùng những khóa tĩnh tâm cuối tuần trong sự phối hợp với thiền tập đã phổ cập rộng rãi.
(Nghịch Lý của Thành Công)

He is president of the California School of Professional Psychology and a member of the boards of the Social Venture Network and California Leadership. He advises major corporations and CEOs on planning, leadership, and organizational health.
“Perhaps more important was the fact that “real men” who had sneered at meditation found out that their hard-as-nails Japanese competitors used it regularly. So more and more persons in mainstream careers began to study Buddhism and other Eastern teachings and to practice meditation, and weekend retreats incorporation meditation grew in popularity.”
(Paradox of Success)
  
Jeffrey M. SchwartzÔng là một giáo sư của UCLA.
"Chúng ta cũng nói về cả vật lý lượng tử và Đạo Phật cổ truyền cung ứng mong ước và lựa chọn là một vai trò trung tâm trong hoạt động của vũ trụ ... Theo luật thời gian vô tận của Duyên Khởi, đấy là do bởi khát vọng tâm thức ấy luôn sinh khởi khắp cả vòng luân hồi vô tận của thế gian. Và chắc chắn đúng rằng trong triết lý Đạo Phật sự lựa chọn của một người không phải được quyết định bởi bất cứ thứ gì trong vật lý, thế giới vật chất....
 
Vì vậy trong cả vật lý lượng tử và triết lý Đạo Phật, khát vọng đóng một vài trò đặc biệt, độc dáo." (Tâm Thức và Não Bộ)
He is a professor of the UCLA.
“We talked, too, about how both quantum physics and classical Buddhism give volition and choice a central role in the workings of the cosmos….According to the Buddha’s timeless law of Dependent Origination, it is because of volition that consciousness keeps arising throughout endless world cycles. And it is certainly true that in Buddhist philosophy one’s choice is not determined by anything in the physical, material world…. So in both quantum physics and Buddhist philosophy, volition plays a special, unique role.”
(The Mind and the Brain)
  
CÁC TRIẾT GIA CA NGỢI ĐẠO PHẬT
Philosophers praise Buddhism
Georg Wilhelm Friedrich Hegel (1770-1831)
"Lịch sử thế giới chuyển dịch từ Đông sang Tây, đối với Âu châu chắc chắn là chấm dứt lịch sử, Á châu mới bắt đầu."(Lịch Sử Triết Học)
“The history of the world travels from East to West, for Europe is absolutely the end of history, Asia is the beginning.”
(The Philosophy of History)
  
James Allen (1864-1912)
"Đức Phật được cho là có cái nhìn về thế giới tâm linh thuần khiết, rực rở và hòa bình hoàn hảo, và Ngài đã thể nhập vào trong ấy."(Khi Con Người Tư Duy)
“Buddha beheld the vision of a spiritual world of stainless.
beauty and perfect peace, and he entered into it.”
(As a man thinketh)

  
Karl Jaspers (1883-1969) "Trong Đức Phật và Đạo Phật tuôn chảy một cội nguồn mà những người phương Tây chúng ta chưa đề cập đến, và kết quả là có một sự giới hạn với việc thông hiểu của chúng ta. Chúng ta trước nhất phải nhận ra rằng Đạo Phật cách biệt xa chúng ta và từ bỏ tất cả những phương pháp nhanh chóng, dễ dàng của việc đến gần nó[1]. Để tham dự trong tinh túy chân lý của Đức Phật, chúng ta phải chấm dứt những gì chúng ta là."

"Sự thật là cuộc đời của Đức Phật là khả dĩ và cuộc sống của Đạo Phật đã là một thực tiển trong nhiều vùng ở Á châu, cho đến chúng ta ngày nay - đây là một sự kiện vĩ đại và quan trọng.
[1]Pháp thượng ưng xả, hà huống phi pháp
(Những Triết Gia Vĩ Đại)
“In Buddha and Buddhism there flows a source which we Westerners have not tapped, and consequently there is a limit to our understanding. We must first of all acknowledgh that Buddhism is far removed from us and renounce all quick, easy ways of coming closer to it. To participate in the essence of Buddha’s truth, we should have to cease to be what we are.”
“The fact that Buddha’s life was possible and that Buddhist life has been a reality in various parts of Asia down to our own day — this is a great and important fact.”
“It points to the questionable essence of man.”
(THE GREAT PHILOSOPHERS)
  
Friedrich Nietzsche (1844-1900)"Đạo Phật thực tiển một trăm lần hơn Ki Tô Giáo. Đạo Phật là tôn giáo tích cực chân thành duy nhất chạm trán trong lịch sử."“Buddhism is a hundred times as realistic as Christianity. Buddhism is the only genuinely positive religion to be encountered in history.”
(THE ANTICHRIST)
  
CÁC VĂN SĨ CA NGỢI ĐẠO PHẬT
Writers praise Buddhism

Daniel Pink"Đạo Phật và khoa học rất tương đồng,"...."bởi vì cả hai đang khám phái bản chất của thực tại, và cả hai có mục tiêu làm giảm thiểu khổ đau của nhân loại."(Một Tâm Thức Hoàn Toàn Mới)
“Science and Buddhism are very similar,”… “because they are exploring the nature of reality, and both have the goal to lessen the suffering of mankind.”
(A WHOLE NEW MIND)
  
Alan Wilson Watts (1915-1973)

"Đức Phật là một nhà tâm lý học vô cùng thiện xảo, và trong một cách nào đấy, Ngài là một nhà tâm lý trị liệu đầu tiên trong lịch sử, một bậc hiền nhân thấu hiểu kỳ diệu những mưu chước và tính không thành thật của tâm thức con người."
(Những Triết Lý Á châu)
“The Buddha was a very skillful psychologist, and he is in a way the first psychotherapist in history, a man of tremendous understanding of the wiles and the deviousness of the human mind.”
(The Philosophies of Asia)
  
Hermann Hesse (1877-1962)"Hương thơm huyền bí của Gotama, Đức Phật, bậc thông tuệ của gia đình Thích Ca. Ngài sở hữu như những người tin tưởng nói, giác ngộ vô thượng, Ngài nhớ những kiếp sống quá khứ, ngài đã đạt đến niết bàn và không bao giờ trở lại vòng luân hồi, chẳng bao giờ chìm đắm trong dòng sông tăm tối của hình sắc vật lý.Nhiều thứ kỳ diệu và không thể tin được nói về Ngài, Ngài đã thi triển thần thông, đã chiến thắng ác ma, đã nói đến chư thiên.

Nhưng kẻ thù của Ngài và những người không tin nói, Sa môn Gotama này là một kẻ thối đọa rỗng tuếch, ông ta sẽ sống những ngày trong nhung lụa, khinh thị đồ cúng dường, không học hỏi, và không biết thực hành cũng không tự khiển trách.
“fragrant myth of Gotama, the Buddha, the wise man of the family of Sakya. He possessed, so the believers said, the highest enlightenment, he remembered his previous lives, he had reached the nirvana and never returned into the cycle, was never again submerged in the murky river of physical forms. Many wonderful and unbelievable things were reported of him, he had performed miracles, had overcome the devil, had spoken to the gods. But his enemies and disbelievers said, this Gotama was a vain seducer, he would spent his days in luxury, scorned the offerings, was without learning, and knew neither exercises nor self-castigation.”
(Siddhartha)
  
Leo Nikolayevitch Tolstoy (1828-1910)"Đối với đời sống trong tâm thức của nổi khổ không tránh khỏi, của việc trở nên bị kiệt quệ, của tuổi già, và của chết chóc, là không thể cam chịu được - chúng ta phải tự do khỏi cuộc đời, khỏi tất cả những cuộc sống có thể,'' Đức Phật nói thế. Và những gì tâm thức mạnh mẽ này nói đã được nói và suy tư và cảm nhận bởi hành triệu trên hàng triệu người giống như họ.
Và tôi đã nghĩ và cảm nhận điều ấy.
(Lời Sám Hối)

“To life in the consciousness of the inevitability of suffering, of becoming enfeebled, of old age and of death, is impossible – we must free ourselves from life, from all possible life,” says Buddha. And what these strong minds said has been said and thought and felt by millions upon millions of people like them. And I have thought it and felt it.
(A CONFESSION)
  
Sir Arthur Charles Clarke (1917- 2008)
"Trong những niềm tin đã hiện hữu trước khi có sự ra đời của những Đấng Tối Cao, chỉ một hình thức Đạo Phật thuần khiết- có lẻ là một tôn giáo chân thật nhất - vẫn tồn tại."
(Sự Kết Thúc của Tuổi Thơ)
Đạo Phật Sẽ Lan Truyền đến Phương Tây

“Of the faiths that had existed before the coming of the Overlords, only a form of purified Buddhism-perhaps the most austere of all religions-still survived.”
(Childhood’s End)
Buddhism will spread to the West.
 
Arnold J Toynbee (1889-1975) 
"Việc Đạo Phật đến phương Tây có thể chứng minh rõ ràng là sự kiện quan trọng nhất của thế kỷ hai mươi."
“The coming of Buddhism to the West may well prove to be the most important event of the Twentieth Century.”

  
Dự Đoán trong Tương Lai

Richard J. Davidson, Ph.D., Lab Director
(born December 12, 1951)

Vào năm 2050...
* Việc luyện tập tinh thần sẽ được chấp nhận và thực hành trong cùng cách như việc luyện tập thân thể hiện nay.

* Chúng ta sẽ có một môn khoa học về những phẩm chất đạo đức.

* Chúng ta sẽ kết hợp chặc chẽ tâm thức trở lại với thuốc men và thấu hiểu tốt đẹp hơn về vấn đề não bộ có thể điều chỉnh sinh học ngoại biên trong những cung cách tác động đến sức khỏe. Điều này sẽ hướng chúng ta đến việc chịu trách nhiệm hơn cho sức khỏe của chúng ta.

* Chúng ta sẽ phát triển một sự tiếp cận thế tục để cung ứng những phương pháp và những sự thực hành từ các truyền thống quán chiếu để:
--- Dạy giáo viên và trẻ em những cách để điều chỉnh cảm xúc tốt đẹp hơn và sự chú ý và trau dồi những phẩm chất như tử tế và từ bi.

--- Thay đổi những sự trừng phạt vì thế sự tha thứ có thể được trau dồi trong những nạn nhân và sự điều chỉnh cảm xúc và sự giảm thiểu căng thẳng trong những người phạm lỗi.

--- Gia tăng tỉnh thức về mối liên hệ hổ tương với những người khác và với hành tinh và thêm những người chịu trách nhiệm săn sóc môi trường quý giá của chúng ta.

--- Thúc đẩy sự chấp nhận mở rộng hơn vào trong những tổ chức văn hóa quan trọng của chúng ta. Điều này sẽ giúp để khôi phục tính lịch sự, khiêm tốn, biết ơn và những đạo đức khác trong văn hóa của chúng ta.

Chuyển hóa tâm thức, thay đổi não bộ chúng ta
In 2050...

* Mental exercise will be accepted and practiced in the same way physical excercise is today.

* We will have a science of virtuous qualities

* We will incorporate the mind back into medicine and better understand how the brain can modulate peripheral biology biology in ways that affect health. This will lead us to take more responsibility for our own health

* We will develop a secular approach to provide methods and pracitces from contemplative traditions to:

--- Teach teachers and chidren ways to better regulate emotions and attention and cutivate qua lities like kindness and compassion

--- Transform corrections so that forgiveness can be cultivated in victims and emotion regulation and stess reduction in offenders.
--- Increase awreness of our interdependence upon others and upon the planet and be more responsible caretakers of our precious environment

--- Promote thrir more widespread adoption into the major institutions of our culture. This will help to restore civility, humility, gratitude and other virtues in our culture.
Transform Your Mind, Change Your Brain
http://m.mp3.zing.vn/bai-hat/de-gio-cuon-di-hong-nhung/zwz97z9c.html

Sống trên đời sống cần có một tấm lòng dù chẳng để làm gì, chỉ để gió cuốn đi. Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã nói vậy. Một cử chỉ nhỏ như giúp người già qua đường, hay giúp đỡ một người xa lạ mà có khi chẳng bao giờ gặp lại họ và có thể không ai thấy cử chỉ tốt đẹp ấy. Lòng ta vẫn an bình hạnh phúc như một cơn gió thoảng. Hãy sống như thế! Vì đó là cách sống tử tế.

Chúng ta hãy cùng nghe bài hát  đầy ý nghĩa này với giọng hát thánh thót của ca sĩ Hồng Nhung.

BÁC SĨ A DI

PHẬT GIÁO ĐI TRƯỚC KHOA HỌC

Albert Einstein đã nói: “Phật giáo không cần phải từ bỏ quan điểm của mình để theo khoa học vì Phật giáo bao gồm cả khoa học cũng như vượt qua khoa học”. Tôi xin đưa ra một dẫn chứng để mọi người cùng tham khảo.


Phật mới bảo: A Nan nên biết
Xương nữ nam phân biệt rõ ràng
Ðàn ông xương trắng nặng hoằng
Ðàn bà xương nhẹ đen thâm dễ nhìn.

Ngươi có biết cớ chi đen nhẹ?
Bởi đàn bà sanh đẻ mà ra
Sanh con ba đấu huyết ra
Tám hộc, bốn đấu sữa hòa nuôi con.

Theo khoa học hiện nay, loãng xương hay gặp ở phụ nữ hơn nam giới là do 3 yếu tố: suy giảm hormon estrogen sau mãn kinh, mất xương trong 3 tháng đầu bào thai và mất xương qua sữa lúc cho con bú. Điều này phù hợp với đoạn kinh trên trong Kinh Báo Hiếu. Qua đây thấy rằng Phật giáo đi trước khoa học. Và chúng ta hiểu rằng hình hài này đã làm cho mẹ chúng ta loãng xương và tăng nguy cơ gãy xương.


Xin nói thêm, vì một người bạn chưa hiểu đúng về Phật học:
Sự truyền thừa kinh phật đã qua nhiều nước, nhiều thế kỷ nên có sự sai biệt nhiều. Quan trọng là giữ được ý Phật. Đã có nhiều cuộc tranh luận về vấn đề đâu là kinh của Phật. Tranh luận kinh đại thừa có phải là của Phật không cũng mất rất nhiều thời gian. Quan trọng không phải là người đó biết bao nhiêu ngôn ngữ, mà nguòi nói được những chân lý không, nếu nói những lời không sâu sắc dù biết tiếng phạn cũng chỉ là người thường. Trong tam tạng kinh thì luận tạng không do phật thuyết mà do các đệ tử đời sau thuyết, nhiều vị được gọi là bồ tát. Albert Enstein cũng nói: Phật giáo là một tôn giáo của khoa học. Bởi vì sao? Vì đức Phật không dạy tin theo những gì Phật dạy, mà phật dạy phải suy xét. Nếu tin mù quáng thì không đúng tinh thần Phật giáo. Ý của bài đăng trên là Phật giáo đã đi trước thời đại. trong giới luật Phật có giới không được uống nước ao hồ mà không được lọc qua lớp vải, bởi vì trong kinh có chép: Phật nhìn vào bát nước thấy vô số sinh vật nhỏ trong bát. Thế đấy, đến thời cận đại mới phát minh ra kính hiển vi để thấy vi trùng. Có phải Phật giáo đi trước khoa học phương Tây. Và còn rất nhiều, rất nhiều dẫn chứng nữa...

BÁC SĨ A DI

BÔNG HỒNG CÀI ÁO - ĐOẢN VĂN SẼ KHIẾN BẠN CẢM ĐỘNG!


Chúng ta thường nghe bài hát bông hồng cài áo, nhạc và lời đều hay và đầy yêu thường. Ít ai biết rằng bài hát được phổ nhạc từ đoản văn Bông hồng cài áo của Thiền sư Thich Nhat Hanh. Cách đây 5 năm, tôi thường nghe đi nghe lại đoản văn này. Một lần tôi đang nghe đoản văn thì đứa em trai đi ngang dừng lại một lúc để nghe, cảm động và trào nước mắt. Tôi nghĩ chuyện này bình thường, vì tôi nghe lần đầu vẫn như vậy và tôi nghĩ bạn cũng vậy.
Xin chia sẻ với mọi người bài văn và video phỏng vấn tác giả.
https://www.youtube.com/watch?v=Nmt-BlB4_FU

http://mp3.zing.vn/bai-hat/Bong-hong-cai-ao-Thich-Nhat-Hanh-Thich-Nhat-Hanh/IW80F97B.html

BÁC SĨ A DI